Bệnh Viêm não Nhật Bản

Bệnh viêm não Nhật Bản là gì?

Bệnh viêm não Nhật Bản (VNNB) là bệnh nhiễm vi rút cấp tính làm tổn thương hệ thần kinh trung ương, thường gặp ở trẻ em dưới 15 tuổi. 
Bệnh gây nên do vi rut VNNB, lây truyền qua muỗi đốt.

Tại sao lại gọi là bệnh viêm não Nhật Bản?

Bệnh được phát hiện lần đầu tiên tại Nhật Bản với biểu hiện viêm não – màng não tuỷ, nhiều người mắc, tử vong rất cao.

Năm 1935 các nhà khoa học Nhật Bản đã tìm ra căn nguyên bệnh là một loài vi rút từ đó đặt tên là vi rút VNNB.

Năm 1938 cũng các nhà khoa học Nhật Bản đã tìm ra vai trò truyền bệnh của loài muỗi Culex tritaeniorhynchus (Cu-lếc tri-tê-nio-rin-cút), và sau đó vào tìm ra vai trò vật chủ và ổ chứa chính của vi rút VNNB là loài lợn và chim.

Bệnh VNNB có ở Việt Nam từ bao giờ và lưu hành như thế nào?

Ở Việt Nam, bệnh VNNB được ghi nhận đầu tiên vào năm 1952.

Năm 1959 dịch Viêm não mùa hè được xác định là do vi rút VNNB bằng chẩn đoán huyết thanh học tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Hà Nội.

Năm 1964, lần đầu tiên vi rút VNNB được phân lập tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Hà Nội, có ký hiệu HN-60.

Bệnh VNNB lưu hành trong cả nước, nhiều nhất ở các tỉnh đồng bằng và trung du miền Bắc. Các ổ dịch phần lớn tập trung ở những vùng trồng lúa nước hoặc vùng bán sơn địa.

Bệnh VNNB lưu hành tản phát theo mùa, thường từ tháng 4 đến tháng 10 là mùa mưa ở Miền Bắc, đỉnh cao vào các tháng 6, 7. Hàng năm có khoảng từ 2000 đến 3000 người mắc bệnh. Từ năm 1997 sau khi có vắc xin VNNB của chương trình Tiêm chủng mở rộng (TCMR) số mắc và chết do bệnh VNNB có chiều hướng giảm đi.

Ngoài Nhật Bản và Việt Nam, còn những nước nào thường có VNNB?

Các nước Đông Nam Á, Ấn Độ, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Philippin, vùng viễn đông Liên bang Nga hàng năm đều có bệnh VNNB với số người mắc khá cao.

Hầu hết các nước này có nhiệt độ cao vào mùa hè và mưa nhiều thuận lợi cho việc trồng lúa nước. Chim di trú và tập quán chăn nuôi lợn theo hộ gia đình còn phổ biến đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu hành virut VNNB trong tự nhiên, từ đó dẫn đến tình trạng lưu hành bệnh VNNB ở người.

Vi rút VNNB có cấu tạo như thế nào?

Vi rút VNNB nằm trong nhóm các vi rút gây bệnh do côn trùng truyền, còn gọi là các vi rút Arbo (ác-bo). Vi rút có dạng hình cầu, đường kính trung bình 40-50 na-nô-mét, lõi được cấu tạo bởi a-xít nhân (ARN) sợi đơn, là vật liệu di truyền của virut.

Hạt vi rút có vỏ bọc bên ngoài với bản chất là glyco-protein. Đó là kháng nguyên bề mặt có tính kết dính hồng cầu nên gọi là kháng nguyên ngưng kết hồng cầu, kháng nguyên này có hoạt tính kích thích sinh khánh thể trung hòa hạt vi rút.

Cấu tạo của vi rút viêm não Nhật Bản

                          ARN:Lõi di truyền của hạt vi rút             E:Kháng nguyên ngưng kết hồng cầu

Virut VNNB có đặc điểm gì ?

Vi rút có hướng tính cao với tế bào thần kinh, gây bệnh cho người. Vi rút có khả năng tồn tại lâu dài trong cơ thể của các động vật có xương sống, chủ yếu là lợn và chim hoang dã.

Virut bị diệt ở nhiệt độ cao (sau 30 phút ở nhiệt độ 56oC, sau 2 phút ở 100oC), và khi tiếp xúc với hầu hết các hoá chất khử trùng ở nồng độ thông thường, hoặc ánh sáng mặt trời.

Quá trình gây bệnh của vi rút VNNB trong cơ thể người như thế nào?

Vi rút VNNB được truyền từ hạch nước bọt muỗi qua da do muỗi đốt người.

Sau khi qua da, hạt vi rút nhân lên tại tổ chức dưới da và tại các mạch lympho vùng, di chuyển tiếp đến các hạch lympho, tuyến ức và cuối cùng vào máu, gây nhiễm virut huyết của tổ chức ngoài thần kinh.

Virut đến hệ thần kinh trung ương gây sung huyết, phù nề và xuất huyết vi thể ở não. Gây các tổn thương vi thể như 
huỷ hoại tế bào thần kinh, thoái hoá tổ chức não, viêm tắc mạch; chủ yếu xảy ra ở chất xám, não giữa và thân não dẫn đến hội chứng não cấp.

Trong quá trình nhân lên và gây bệnh, vi rút VNNB cũng kích thích cơ thể vật chủ sinh kháng thể trong máu và dịch não tuỷ.

Có mấy loại kháng thể và vai trò của mỗi loại như thế nào?

Kháng thể kháng vi rút VNNB do cơ thể người sinh ra, sau khi nhiễm vi rút tự nhiên (mắc bệnh), hoặc sau khi sử dụng vác xin VNNB. Kháng thể có bản chất là một glô-bu-lin (Ig) miễn dịch.

Có 2 lớp glô-bu-lin miễn dịch quan trọng trong bệnh VNNB là :

·         Kháng thể IgM xuất hiện sớm, ngay sau khi nhiễm virut và tồn tại khoảng 60 ngày, được phát hiện bằng phản ứng MAC-ELISA và có giá trị trong chẩn đoán xác định bệnh VNNB.

·         Kháng thể IgG xuất hiện muộn hơn nhưng tồn tại trong một thời gian dài, có thể suốt đời, có vai trò chính trong việc bảo vệ cơ thể. Các phân tử IgG có thể truyền qua nhau thai. Khi bị nhiễm virut lần 2 các phân tử IgG được tổng hợp tiếp nên hiệu giá kháng thể tăng nhanh và rất cao

Ổ chứa của vi rút VNNB có ở đâu?

Ổ chứa vi rút VNNB trong thiên nhiên chính là các loài động vật có xương sống, là nơi vi rút VNNB nhân lên, lưu giữ lâu dài và từ đó phát tán rộng.

Ổ chứa vi rút tiên phát là một số loài động vật sống hoang dã như các loại chim, sau đó là một số loài bò sát.

Ổ chứa vi rút thứ cấp là một số loài súc vật nuôi gần người, quan trọng nhất là lợn, sau đó là trâu, bò, dê, cừu, chó, khỉ. Bò và ngựa có thể mang vi rút nhưng ít khi làm lây nhiễm cho con người.

Cơ thể người nhiễm vi rút VNNB cũng là một loại ổ chứa, nhưng chỉ là tạm thời do thời gian lưu giữ vi rút rất ngắn.

Nguồn truyền nhiễm của bệnh VNNB là loài nào?

Động vật nhiễm vi rút có vai trò là nguồn truyền nhiễm bệnh VNNB cho người.

Nguổn tuyền nhiễm trong thiên nhiên là loài chim, trong đó có một số loài ăn quả vải quả nhãn như tu hú, liếu điếu.

Nguồn truyền nhiễm gần người là một số loài gia súc, trong đó quan trọng nhất là lợn nhà.

Người bệnh có thể truyền vi rút qua muỗi đốt, tuy nhiên trên thực tế người không có vai trò là nguồn truyền nhiễm bệnh VNNB.

Tại sao loài lợn được coi là nguồn truyền nhiễm quan trọng ?

Trong số các loài động vật sống gần người, lợn được coi là nguồn truyền nhiễm quan trọng nhất, vì:

·         Chỉ số lợn bị nhiễm virút VNNB rất cao (khoảng 80% đàn lợn nuôi), và số lượng lợn nuôi tại hộ gia đình rất lớn (hầu hết gia đình ở nông thôn có nuôi lợn).

·         Sự xuất hiện vi rút VNNB trong máu lợn xảy ra ngay sau khi lợn bị nhiễm virút. Thời gian nhiễm virút huyết ở lợn kéo dài từ 2 đến 4 ngày với số lượng virút VNNB trong máu đủ để gây nhiễm cho muỗi Culex tritaeniorhynchus.

·         Muỗi Cx. tritaeniorhynchus, véc tơ chính truyền bệnh VNNB cho người, rất ưa thích hút máu lợn.

Bệnh VNNB được lây truyền theo đường nào?

Bệnh VNNB lây theo đường máu, do côn trùng (muỗi) đốt hút máu động vật nhiễm vi rút rồi  đốt người, qua đó truyền vi rút cho người. Muỗi truyền bệnh VNNB được gọi là véc tơ truyền bệnh.

Vi rút được truyền qua vết đốt của muỗi cái, từ tuyến nước bọt có chứa vi rút.

Bệnh VNNB không thể lây trực tiếp từ người sang người. Ăn uống chung, dùng chung đồ dùng, tiếp xúc gần gũi với người bệnh không làm lây bệnh.

Có mấy chu trình lan truyền vi rút VNNB?

     Có 2 chu trình lan truyền vi rút VNNB chính trong thiên nhiên :

·         Chu trình chim - muỗi - chim: vi rút VNNB được truyền từ con chim nhiễm vi rút sang con chim lành qua các loài muỗi ưa thích hút máu chim.

·         Chu trình lợn - muỗi - lợn : trong đó vi rút VNNB được truyền từ con lợn nhiễm vi rút sang con lợn lành qua các loài muỗi ưa thích hút máu lợn.

Giữa 2 chu trình lan truyền trong thiên nhiên có 1 chu trình lan truyền phụ, còn gọi là ngõ cụt sinh học, trong đó muỗi nhiễm vi rút VNNB (từ chim và lợn) đốt, hút máu người và truyền vi rút cho người lành (xem sơ đồ dưới). 

                                                             

                                                                            Sơ đồ truyền bệnh Viêm não Nhật Bản

Tại sao muỗi có khả năng truyền bệnh VNNB ?

Muỗi ưa đốt và hút máu động vật máu nóng. Chỉ có muỗi cái mới đốt hút máu do đó chỉ có muỗi cái mới có khả năng nhiễm vi rút và truyền bệnh VNNB.

Một loài muỗi có thể ưa thích đốt hút máu một loài động vật nhất định, nhưng có thể đốt hút máu nhiều loài động vật khác, trong đó có con người.

Vi rút VNNB có khả năng sinh sản nhân lên trong cơ thể muỗi, tuy nhiên chúng không gây bệnh cho loài muỗi, do đó có thể tồn tại nhiều ngày, kéo dài thời gian truyền bệnh.

Muỗi có thể truyền vi rút VNNB qua trứng, vì vậy bản thân muỗi cũng được coi là một loại vật chủ của vi rút VNNB trong thiên nhiên.

Loài muỗi nào là vector chính truyền vi rút VNNB ở Việt Nam?

Véc tơ chính truyền bệnh VNNB ở Việt Nam là loài muỗi Culex tritaeniorhynchus. Ngoài ra một số loài Culex khác cũng có thể có vai trò truyền bệnh như Culex vishnui, Culex gelidus. Vai trò truyền bệnh của một số loài muỗi khác như Aedes albopictus, Anophele minimus...chưa được chứng minh thực tế. 

Những đặc điểm sinh lý-sinh thái chính của muỗi Cx. tritaeniorhynchus là gì?

Muỗi thường sinh sống ở vùng lúa nước (nên còn gọi là muỗi đồng ruộng), đặc biệt là các khu ruộng mạ, các chân ruộng cạnh khu dân cư, khu vườn chim, vùng bán sơn địa.

Ổ ấu trùng (bọ gậy/loăng quăng) của muỗi là ruộng nước, ao hồ đầm nông, các rãnh cấp thoát nước quanh khu dân cư có nước tù đọng hoặc chảy chậm.

Muỗi trưởng thành có thể sống bằng các chất hữu cơ, nhựa cây cỏ tự nhiên, tuy nhiên muỗi cái có thể đốt hút máu động vật máu nóng, đặc biệt ưa thích đốt các loài chim và gia súc. Một muỗi cái có thể đốt hút máu nhiều lần, ở nhiều động vật (nếu chưa no trong một bữa máu) trong một ngày.

Thông thường chiều tối đến đêm (6 giờ chiều đến 9 giờ tối), hoặc buổi sáng sớm muỗi từ cánh đồng bay vào các chuồng trại để hút máu súc vật. Nếu gặp người chúng có thể đốt hút máu và truyền bệnh.

Muỗi có thể bay xa tới 1,5 km và được phát hiện trên cây cao cách mặt đất 13-15m. Muỗi Culex triteaniorhychus có thể sinh sản rất nhanh trong mùa mưa ở điều kiện nhiệt độ thường xuyên cao trên 25 độ C và độ ẩm trên 80%.                          

Muỗi có thể truyền vi rút VNNB trong bao lâu?

Sau khi hút máu động vật có nhiễm vi rút, muỗi tìm nơi trú ẩn tiêu máu. Vi rút nhân lên trong cơ thể muỗi trong vài ngày (tối đa 14 ngày) thì đủ khả năng truyền bệnh, nếu muỗi đốt hút máu người.

Muỗi cái bị nhiễm virut Viêm não Nhật Bản có khả năng truyền bệnh suốt đời, và có thể truyền virut sang thế hệ sau qua trứng.

Virut thường phát triển nhanh trong cơ thể muỗi ở 270C–300C. Nếu dưới 200C thì sự phát triển của virut dừng lại. Đó cũng là lý do tại sao bệnh thường xảy ra từ tháng 4 đến tháng 9 và đỉnh cao là vào tháng 6, tháng 7.

Ai và lứa tuổi nào thường bị bệnh VNNB?

Tất cả mọi người, mọi lứa tuổi nếu chưa có miễn dịch với vi rút VNNB đều có thể bị mắc bệnh. Ở những vùng bệnh VNNB lưu hành nặng, bệnh gặp chủ yếu ở trẻ em dưới 15 tuổi (chiếm tỷ lệ trên 90% số ca mắc) trong đó đa số là trẻ từ 1-5 tuổi. Do có vác xin VNNB trong những năm vừa qua, tuổi nhóm trẻ mắc bệnh chủ yếu đã nâng lên. Hiện tại ở Việt Nam tỷ lệ mắc VNNB cao nhất ở nhóm trẻ em từ 5 - 9 tuổi, hoặc lớn hơn. Người lớn có nguy cơ nhiễm do chưa từng được tiêm chủng và nhiễm vi rút, khi đi du lịch, lao động, công tác vào vùng lưu hành bệnh VNNB.

Có mấy mức độ bệnh VNNB được ghi nhận?

Có 2 mức độ :

·         Bệnh VNNB lâm sàng : bệnh nhân viêm não cấp, có triệu chứng lâm sàng của bệnh VNNB.

·         Bệnh nhân VNNB xác định phòng thí nghiệm : bệnh nhân có viêm não cấp, có xét nghiệm MAC-ELISA dương 
tính với VNNB.  

Các thể bệnh VNNB lâm sàng thường gặp?

Bệnh VNNB thể hiện triệu chứng rất đa dạng như:

·         Thể VNNB với viêm não- màng não tuỷ cấp tính, điển hình.

·         Thể viêm màng não nước trong, thường có sốt và đau đầu.

·         Thể nhẹ, thoảng qua với sốt nhẹ, mệt mỏi, có thể đau đầu.

·         Nhiễm virut VNNB không có biểu hiện triệu chứng, thường ở những người đã có miễn dịch. Tại vùng lưu hành bệnh VNNB cứ 1 trường hợp bệnh điển hình có tới 20 đến 100 người mang vi rút VNNB không triệu chứng.

Biểu hiện của thể bệnh VNNB điển hình như thế nào?

Sau thời gian ủ bệnh từ 5 đến 15 ngày, bệnh sẽ xuất hiện theo 3 giai đoạn:

·         Giai đoạn khởi phát: khoảng từ 1 đến 6 ngày. Bệnh nhân có sốt đột ngột, thường kèm theo ớn 
lạnh, mệt mỏi, đau đầu, buồn nôn và nôn.

·         Giai đoạn toàn phát: Tiếp tục sốt cao 38°C- 40°C, kéo dài; có biểu hiện của viêm màng não (đau đầu, cứng gáy, nôn và buồn nôn, táo bón); biểu hiện rối loạn ý thức (kích thích vật vã hoặc li bì, u ám, có thể đi vào hôn mê); biểu hiện tổn thương thần kinh trung ương khu trú (co giật, run giật tự nhiên ở ngón tay, lưỡi, mi mắt hoặc toàn thân, liệt cứng); kèm theo rối loạn thần kinh thực vật. Tỷ lệ tử vong từ 0,3% - 60% tuỳ theo việc phát hiện bệnh sớm hay muộn, trình độ kỹ thuật hồi sức cấp cứu chống phù não, suy hô hấp, trụy tim mạch và chống bội nhiễm vi khuẩn.

·         Giai đoạn hồi phục: Nếu qua khỏi, bệnh nhân có thể hồi phục hoàn toàn. Một số trường hợp nặng có thể để lại di chứng liệt cứng ở chi trên hoặc chi dưới, liệt mặt và/hoặc di chứng rối loạn tinh thần, mất ổn định về tình cảm, thay đổi cá tính, chậm phát triển trí tuệ.

Dựa vào đâu để chẩn đoán được bệnh viêm não Nhật Bản?

Chẩn đoán một trường hợp bệnh VNNB cần dựa vào 3 yếu tố:

·         Đặc điểm lâm sàng : với các thể bệnh và biểu hiện lâm sàng như mô tả ở trên.

·         Đặc điểm xét nghiệm : dịch não tuỷ (DNT) tăng áp lực và nước trong; bạch cầu máu không tăng; xét nghiệm Mac-ELISA từ máu hoặc DNT dương tính với VNNB.

·         Đặc điểm dịch tễ: sống ở vùng lưu hành VNNB, nhất là vào mùa bệnh.

Có thể làm giảm tỷ lệ tử vong và di chứng do VNNB không? bằng cách nào?

Có thể được, bằng những biện pháp sau:

·         Gia đình và nhân viên y tế thôn/xã phát hiện sớm các dấu hiệu viêm não cấp của trẻ, xử lý chống sốt và theo dõi chặt chẽ tiến triển bệnh.

·         Nếu các dấu hiệu viêm não-màng não cấp tiến triển rõ hơn, cần gửi trẻ đến cơ sở điều trị theo đúng tuyến.

·         Các cơ sở điều trị bệnh nhân tích cực, theo đúng phác đồ của Bộ Y tế.

·         Phát hiện sớm di chứng để điều trị hồi phục chức năng cho bệnh nhân.

Cần lấy mẫu để xét nghiệm vi rút vào lúc nào?

Để có kết quả chính xác giúp chẩn đoán ca bệnh VNNB cần lấy mẫu xét nghiệm vào thời điểm thích hợp nhất:

·        Để gửi đi phân lập vi rút : mẫu DNT hoặc máu toàn phần cần lấy sớm, trong 4 ngày đầu của bệnh kể từ khi có sốt.

·        Để xét nghiệm MAC-ELISA: mẫu DNT và máu lấy từ ngày thứ 3-4 của bệnh. Trường hợp lấy mẫu lần 2 để xác định mức độ tăng hiệu giá kháng thể cần  lấy sau lần 1 ít nhất  7 - 10 ngày, hoặc trước khi bệnh nhân ra viện.

 Có phải MAC-ELISA được coi là kỹ thuật xét nghiệm chẩn đoán xác định VNNB hiệu quả nhất hiện nay?

Đúng, vì kỹ thuật xét nghiệm MAC-ELISA :

·         Có khả năng cho kết quả sớm (từ mẫu máu hoặc DNT lấy ngày thứ 3-4 của bệnh)

·         Chỉ cần một mẫu xét nghiệm đơn, không cần lấy mẫu lần thứ 2

·                  Có thể loại trừ phản ứng chéo giữa VNNB và vi rút Dengue (trong cùng nhóm vi rút Flavi)

·         Kỹ thuật dễ thực hiện, không quá tốn kém; trang bị xét nghiệm hiện có ở hầu hết tuyến tỉnh; bộ sinh phẩm do các Viện VSDTTƯ và Pasteur Hồ Chí Minh sản xuất và cung cấp.

 Click vào đây để XEM CÁCH PHÒNG CHỐNG

Nguồn Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Trung Ương

Xem Tin tức tiêm chủng trên Google+